TÁC PHẨM “DÂN VẬN” CỦA
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH – GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN VẬN
HIỆN NAY
Tác phẩm “Dân vận” đã
khẳng định vị trí xứng đáng trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, với giá trị đặc
biệt, thể hiện xuyên suốt tư tưởng “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”.
“Dân vận” là tâm huyết Bác dành cho mỗi cán bộ, đảng viên, khẳng định sâu sắc quan
điểm dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và đồng thời còn phản
chiếu sinh động, trọn vẹn cả tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh.
“Dân vận” là kết tinh dòng
chảy tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân
dân và công tác vận động quần chúng của Đảng
“Vấn đề Dân vận nói đã nhiều, bàn đã kỹ nhưng vì
nhiều địa phương, nhiều cán bộ chưa hiểu thấu, làm chưa đúng, cho nên cần phải
nhắc lại”. Lời mở đầu giản dị,
trực diện trong bài báo “Dân vận” đăng trên báo Sự thật với bút danh X.Y.Z tròn 70 năm trước cũng chính là trăn trở
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tầm quan trọng chiến lược của công tác vận động
quần chúng của Đảng. Là người sáng lập và rèn luyện Đảng, khi để lại bản Di chúc thiêng liêng cho toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân, trong lời dặn dò đầu tiên dành nói về Đảng, tâm nguyện thiết tha của
Người là Đảng luôn “một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ
quốc” và nhân dân “luôn luôn đi theo Đảng,
rất trung thành với Đảng”.
Với niềm tin vững chắc vào lực lượng to lớn của
nhân dân, coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, xuyên suốt cuộc đời hoạt
động cách mạng của mình, cho đến lúc để lại Di chúc, Bác luôn dành tâm huyết bồi đắp, củng cố
mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân thông qua cầu nối là
công tác vận động quần chúng. Riêng trong năm 1949, khi sự nghiệp kháng chiến,
kiến quốc chuẩn bị bước vào những chiến dịch lớn, cần có “nhiều người, nhiều tiền,
nhiều của” để thực hiện mục tiêu
“Tất cả để đánh thắng. Đẩy mạnh cuộc cầm cự. Chuẩn bị tổng phản công”, Chủ tịch
Hồ Chí Minh thường xuyên nói về công tác dân vận trong hàng chục văn bản, tác
phẩm, bằng nhiều hình thức thể hiện (thư, điện, bài báo, truyện ngắn...), trên
những ấn phẩm được đông đảo cán bộ, chiến sĩ, đồng bào theo dõi, như báo Sự thật, báo Cứu Quốc, báo Quân du kích... Trong đó, tác phẩm “Dân vận” với hình thức bài báo chỉ hơn 600 chữ đã thể
hiện kết tinh một cách toàn diện, hoàn chỉnh, cô đọng, khúc chiết, dễ hiểu, dễ
nhớ tư tưởng Hồ Chí Minh về những vấn đề căn cốt nhất trong công tác dân vận
của Đảng, đó là mối quan hệ giữa dân chủ và dân vận; quan điểm, nguyên tắc tiến
hành công tác dân vận, trách nhiệm vận động quần chúng của cả hệ thống chính
trị, phương pháp vận động quần chúng và những phẩm chất cần có đối với cán bộ
dân vận. Tư tưởng của Người về công tác dân vận trong bài báo này chính là sự
tổng kết, phát triển đường lối chiến lược về tập hợp lực lượng cách mạng và
công tác vận động quần chúng đã được thể hiện trong các tác phẩm nổi tiếng
trước đó, như “Đường cách mệnh” (năm 1927), “Lịch sử nước ta” (năm 1942), “Chính phủ là công bộc của dân” (năm 1945), “Sao cho được lòng dân” (năm 1945), “Đời sống mới”
(năm 1947), “Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947)...
Mở đầu tác phẩm, trong 7 câu rất súc tích, Bác
đã cô đúc, thể hiện rất đặc sắc lý luận về dân chủ xã hội chủ nghĩa thông qua
mối tương quan giữa “nước” với “dân”:
“NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung
ương do dân cử ra.
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.
Tư tưởng trọng dân, luôn đặt nhân dân ở vị trí
trung tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết khởi nguồn từ lòng yêu nước thương
nòi, từ những trải nghiệm của Người trong những năm tháng cần lao vô sản, từ
niềm tự hào, kế thừa và phát triển truyền thống quý báu về tập hợp sức mạnh
quần chúng nhân dân được hun đúc qua suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ
nước của dân tộc, kết hợp với sự vận dụng sáng tạo giá trị lý luận thời đại của
chủ nghĩa Mác - Lê-nin về công tác vận động quần chúng. Một chữ “dân” được
Người sử dụng gắn với sự nhấn mạnh “vì dân”, “của dân”, “do dân cử ra”, “do dân tổ
chức nên” hàm chứa giá trị
biểu đạt rất phong phú về quốc dân đồng bào, về dân tộc Việt Nam, các giai tầng
xã hội, các thế hệ, các giới, các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, cộng đồng...
“Dân” chính là tập hợp lực lượng cách mạng của những người chung lòng yêu nước,
cùng gánh vác sứ mệnh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cách mạng Tháng Tám thành
công, trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” Người lý giải về thành công của thắng lợi lịch
sử, đó là bởi “lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến
thắng được lực lượng đó”.
Để tập hợp được sức mạnh to lớn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trân trọng đặt
nhân dân vào vị trí của người làm chủ, là người vừa có lợi ích, vừa có trách
nhiệm đối với sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, đổi mới, xây dựng đất nước. Vì
vậy, động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của
nhân dân, kết hợp hài hòa các lợi ích, quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ công
dân; sự tham gia, đóng góp của mỗi một người dân, dù ở cương vị nào chính là
khởi nguồn để làm nên “nhiều người, nhiều của, nhiều tiền” của lực lượng toàn dân. Lời Bác dạy thật thấm
thía: “Ba thứ ấy, Dân ta đều sẵn có. Dân ta lại sẵn lòng đưa người, đưa
của, đưa tiền ra để ủng hộ Đoàn thể và Chính phủ một khi họ hiểu rõ chính sách
ấy là rất đúng”. Bởi vậy, công tác dân
vận được đặt ở tầm nhiệm vụ chiến lược, phải được mỗi cán bộ chính quyền và
đoàn thể tiến hành thường xuyên trong mọi hoàn cảnh, địa bàn, hướng tới mọi
tầng lớp nhân dân, tập hợp, củng cố, khơi lên nguồn sức mạnh toàn dân bằng các
phong trào cách mạng thiết thực để quần chúng nhân dân có ý thức làm chủ và có
điều kiện làm chủ thực sự. Công tác dân vận chính là mạch nối duy trì mối liên
hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân để thực hiện chính sách đại đoàn
kết dân tộc như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nghiêm khắc cảnh báo trong “Sửa đổi lối làm việc”:
“Ta phải liên lạc mật thiết với dân chúng. Không được rời xa dân chúng. Rời xa
dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”.
Từ mối quan hệ khăng khít giữa dân chủ và dân
vận, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu định nghĩa sáng tỏ về công tác dân vận: “Dân vận là vận động tất
cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành
lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính
phủ và Đoàn thể đã giao cho”;
đồng thời Người khẳng định: “Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo
thì việc gì cũng thành công”.
Đây chính là cốt lõi tư tưởng đại đoàn kết rộng rãi, lâu dài, chân thành, triệt
để của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời là sự nhấn mạnh về tầm quan trọng chiến
lược của công tác dân vận trong xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân
tộc và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đi đôi với mục tiêu thực
hành dân chủ, để bảo đảm sự nghiệp cách mạng không lơi lỏng, không xa rời bản
chất “của dân, do dân, vì dân”, Người cũng đặt nền móng cho việc định hình phương châm “Dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra” thông qua việc chỉ rõ
những việc nên làm, đó là: Trước nhất, phải giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng về lợi ích và
nhiệm vụ của họ để họ hăng hái làm cho kỳ được; thứ hai, bất kỳ việc gì cũng phải bàn bạc, hỏi ý
kiến và kinh nghiệm của dân, cùng dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh
địa phương; thứ ba, động viên và tổ
chức toàn dân thi hành, đồng hành theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích
dân; thứ tư, khi thi hành xong
phải cùng dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng.
Đây chính là nền tảng tư tưởng cho phương châm “Dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra” được Đảng ta quán
triệt, vận dụng, phát triển ngày càng sâu sắc trong quá trình vận hành cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước
quản lý, nhân dân làm chủ”.
Từ việc giải quyết câu hỏi “Dân vận là gì?” đến “Ai phụ trách dân vận?”,
“Dân vận phải thế nào?”
thể hiện lô-gíc biện chứng rất giản dị, sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối
quan hệ giữa nhiệm vụ và giải pháp. Tương ứng với nhiệm vụ cơ bản là đoàn kết,
tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, “vận động tất cả lực
lượng của mỗi một người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực
lượng toàn dân”, thì giải pháp chủ yếu
của công tác dân vận là phải phát huy trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, mà
đi đầu là dân vận chính quyền: “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn
thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh...) đều
phải phụ trách dân vận”.
Có thể khái quát những điểm lớn về phương thức
triển khai công tác dân vận trong tư tưởng Hồ Chí Minh như sau:
Thứ nhất, từng cán bộ, cơ quan, tổ chức đều phải làm
công tác vận động quần chúng gắn với nhiệm vụ, quyền hạn và công việc hằng ngày
của mình. Trong ví dụ được Bác nêu ra thể hiện một ẩn ý sâu sắc, viết về công
tác dân vận, nhưng Bác nêu ví dụ bằng việc thực hành dân vận của cán bộ canh
nông, cán bộ chính quyền, cán bộ đoàn thể... tức là những người trực tiếp làm
công tác vận động quần chúng thông qua hoạt động chuyên môn của mình, qua đó
khẳng định nguyên lý và cũng là giao nhiệm vụ dân vận cho cả hệ thống chính trị.
Thứ hai, trong thực hiện nhiệm vụ dân vận, chính quyền,
đoàn thể, cán bộ chuyên môn, cán bộ địa phương phải cùng nhau hợp tác mật
thiết, phối hợp chặt chẽ, bàn bạc kỹ lưỡng, phân công rõ ràng để phát huy hiệu
quả dân vận theo thế mạnh, sở trường, chức trách của từng người, tạo thành sức
mạnh tổng hợp.
Thứ ba, coi trọng công tác tuyên truyền, vận động để “dân hiểu, dân nhớ, dân
theo, dân làm”(8), nhưng
phương pháp dân vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít-tinh, khẩu
hiệu, truyền đơn, nói suông hoặc ngồi viết mệnh lệnh mà phải “thực thà nhúng tay vào
việc”, phải thường xuyên gắn
bó, động viên, khuyến khích, đôn đốc, theo dõi, giúp đỡ nhân dân.
Thứ tư, người làm công tác vận động quần chúng trước
hết phải có tinh thần xung phong, nêu gương, làm mẫu từ lời nói đến hành động
sao cho dân tin, dân phục, dân yêu, để từ đó làm dấy lên phong trào thi đua.
Có thể nói, đây là những nguyên lý cơ bản của
nghiệp vụ dân vận cho đến nay còn nguyên tính thời sự và giá trị chỉ đạo thực
tiễn, tạo nên sức sống bền vững tự nhiên của tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác
dân vận.
Giá trị bền vững của đạo
đức, phong cách dân vận Hồ Chí Minh
Từ thực tiễn hoạt động phong phú trong phong
trào vô sản quốc tế cũng như sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí
Minh không ngừng trăn trở, suy nghĩ về hạnh phúc của nhân dân. Người thường
xuyên đến với dân, lắng nghe để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp
nhân dân, từ lời nói, việc làm cụ thể dù to hay nhỏ đều đặt lợi ích của nhân
dân lên trên hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một phong cách mẫu mực về người
làm công tác dân vận, được Người đúc kết ngắn gọn là “óc nghĩ, mắt trông, tai
nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”. Đây vừa là sự đánh giá cao, vừa là yêu cầu khắt khe về bản lĩnh
chính trị, tư duy lý luận, năng lực thực tiễn, đạo đức cách mạng và tinh thần
nêu gương của người thực hành dân vận trong một nhà nước dân chủ. Công tác dân
vận không thuần túy chỉ là nhiệm vụ chính trị, mà còn là một khoa học, một nghệ
thuật để cho những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến được với
dân, làm cho dân hiểu, dân nhớ, dân tin, từ đó hăng hái, tự nguyện, tự giác
tham gia. Để làm được điều đó, tiêu chuẩn “óc nghĩ” đòi hỏi cán bộ dân vận phải có trí tuệ,
được trang bị nền tảng lý luận vững chắc, không ngừng suy nghĩ, tìm tòi, nâng
cao năng lực bản thân để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ vận động quần chúng,
tập hợp lực lượng, không làm bừa, làm ẩu, làm đối phó, làm cho xong; “mắt trông” là tiêu chí đề cao năng lực thực tiễn, theo
dõi, nắm vững tình hình, đặc điểm, diễn biến trong thực tế để có giải pháp
triển khai phù hợp, thiết thực. Để tránh bệnh quan liêu, vô cảm, xa rời quần
chúng, cán bộ dân vận phải “tai nghe, chân đi”, thường xuyên, chủ động đến với dân, hướng về cơ sở để lắng
nghe, tiếp nhận thông tin đa chiều từ nhân dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng
chính đáng của nhân dân, phát hiện, xử lý thông tin sai trái làm ảnh hưởng đến
niềm tin của dân đối với sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời phải nêu gương giữa
nói và làm, giữa tuyên truyền và hành động, sao cho tinh thần dân vận thấm vào
từng công việc cụ thể, tránh tình trạng: “Trên giấy tờ thì cái gì
cũng có. Nhưng sự thật, thì việc gì cũng uể oải, lúi xùi”(9). Bác cũng phê phán mạnh mẽ những
biểu hiện nhận thức lệch lạc về công tác dân vận: “Khuyết điểm to ở nhiều nơi
là xem khinh việc dân vận. Cử ra một ban hoặc vài người, mà thường cử những cán
bộ kém rồi bỏ mặc họ. Những cán bộ khác không trông nom, giúp đỡ, tự cho mình
không có trách nhiệm dân vận. Đó là sai lầm rất to, rất có hại”.
Tuyên truyền, vận động, thuyết phục nhân dân là
khâu trọng yếu của công tác dân vận, hiệu quả tuyên truyền phụ thuộc vào phẩm
chất cá nhân, thái độ, kỹ năng của cán bộ tuyên truyền. Trong tác phẩm “Người tuyên truyền và
cách tuyên truyền”, Người căn dặn cán bộ
tuyên truyền phải suy nghĩ để hiểu rõ, nắm sâu về nội dung tuyên truyền, phải
biết cách nói đơn giản, rõ ràng, thiết thực, có đầu, có cuối để ai cũng hiểu
được, không nói dài quá một tiếng đồng hồ làm người nghe chán tai; phải lễ độ,
xưng hô phù hợp, thái độ phải mềm mỏng, đúng mực. Nếu không muốn công việc
tuyên truyền thất bại thì người tuyên truyền “phải chịu khó, chịu khổ,
khéo ở, siêng làm”, không được lầm tưởng
“đi
phớt qua địa phương, diễn thuyết một hai giờ đồng hồ mà có kết quả”. Quan trọng hơn, Bác luôn nhắc nhở, răn dạy
cán bộ phải tu dưỡng, rèn luyện thái độ ứng xử với dân, đề cao tinh thần nêu
gương và làm gương là cách gây dựng tốt nhất tình cảm trong dân, “sẽ giúp cho việc tuyên
truyền kết quả lên gấp bội”.
Đây là những bài học vô cùng quý giá, thấm thía từ đạo đức, phong cách dân vận
Hồ Chí Minh để cán bộ dân vận soi vào, tự sửa mình và noi theo.
Tiếp tục đổi mới nội
dung, phương thức vận động quần chúng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh trong giai đoạn hiện nay
Trong mỗi giai đoạn lịch sử cách mạng, công tác
dân vận của Đảng có những nội dung, phương thức khác nhau, nhưng mục tiêu quan
trọng nhất đều nhằm tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân,
củng cố niềm tin vững chắc của nhân dân với Đảng, Nhà nước, vận động, thu hút
rộng rãi các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia các phong trào cách mạng, thi
đua yêu nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ngay từ khi công cuộc kháng chiến, kiến quốc còn
đầy gian khó, trong “Dân vận” Bác đã tiên liệu về sự
nghiệp đổi mới và chỉ ra cội nguồn sức mạnh để thực hiện đổi mới: “Công việc đổi mới, xây
dựng là trách nhiệm của dân”.
Trên thực tế, sự nghiệp đổi mới cũng được khởi phát từ chính trong quần chúng
nhân dân, như Văn kiện Đại hội VIII đã khẳng định: “Chính những ý kiến,
nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới
của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt
qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu
hôm nay”
Nhận thức sâu sắc về giá trị to lớn, bền vững
của tư tưởng, đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh trong công tác dân vận, nhiều năm qua, cùng với sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta luôn quan tâm, ban hành nhiều nghị quyết cụ thể hóa chủ trương, đường lối đối với công tác dân vận, đổi mới nội dung, phương thức vận động quần chúng, cũng là quá trình học tập và làm theo những lời dạy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết trong “Dân vận”.
Hồ Chí Minh trong công tác dân vận, nhiều năm qua, cùng với sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta luôn quan tâm, ban hành nhiều nghị quyết cụ thể hóa chủ trương, đường lối đối với công tác dân vận, đổi mới nội dung, phương thức vận động quần chúng, cũng là quá trình học tập và làm theo những lời dạy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết trong “Dân vận”.
Năm 1986, tại Đại hội VI, khi tổng kết quá trình
lãnh đạo sự nghiệp cách mạng và quyết định đường lối đổi mới toàn diện đất
nước, bài học lớn hàng đầu được Đảng ta nhấn mạnh trong Báo cáo chính trị là bài học về quán triệt tư tưởng “dân là gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, chăm lo củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, xây dựng
lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung
ương khóa VI đã ra Nghị quyết số 08B-NQ/HNTW, ngày 27-3-1990, “Về đổi mới công
tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”. Đây là bước chuyển kịp thời để chấn chỉnh sự
giảm sút mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, chấn chỉnh tình trạng một bộ phận
cán bộ, đảng viên quan liêu, mệnh lệnh, xa dân, chuyên quyền, độc đoán, tham ô,
nhận hối lộ, sống xa hoa, lãng phí, làm giảm nhiệt tình cách mạng, hạn chế việc
phát huy khả năng to lớn của nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước. Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) khẳng định mạnh mẽ, sâu sắc: “Toàn bộ hoạt động của
Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh
của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân”. Từ yêu cầu tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác quần chúng, năm 1992 Ban Bí thư đã quyết định thành
lập Hội đồng Công tác quần chúng Trung ương làm chức năng tư vấn cho Bộ Chính
trị, Ban Bí thư về công tác quần chúng, cơ quan thường trực giúp việc là Ban
Dân vận Trung ương
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 3-6-2013, “Về tăng cường và đổi mới
sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”. Trên cơ sở đánh giá toàn diện tình hình, làm
rõ các thách thức đối với công tác dân vận trong bối cảnh đẩy mạnh sự nghiệp
đổi mới lên tầm cao mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu
rộng, với mục tiêu củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng, tạo ra
phong trào cách mạng rộng lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thành
công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nghị quyết số 25-NQ/TW đã kế thừa Nghị quyết số
8B-NQ/TW, phát triển và làm sâu sắc hơn 5 quan điểm chỉ đạo đối với công tác
dân vận, đó là: 1- Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; 2- Động lực thúc đẩy
phong trào nhân dân là phát huy quyền làm chủ, đáp ứng lợi ích thiết thực của
nhân dân; kết hợp hài hòa các lợi ích; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ công
dân; chú trọng lợi ích trực tiếp của người dân; huy động sức dân phải đi đôi
với bồi dưỡng sức dân; những gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, những gì
có hại cho dân thì hết sức tránh; 3- Công tác dân vận của Đảng phải gắn liền với
công tác xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Mọi quan điểm, đường
lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước phải phù hợp với lợi ích của nhân dân. Mỗi
cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải gương mẫu để nhân dân tin tưởng,
noi theo; 4- Công tác dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của cán
bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể nhân dân,
cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang. Trong đó, Đảng lãnh đạo, chính quyền tổ
chức thực hiện, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể chính trị - xã hội làm tham
mưu và nòng cốt; 5- Nhà nước có trách nhiệm thể chế hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước
quản lý, nhân dân làm chủ”
thành quy chế, quy định đi vào cuộc sống để các tổ chức trong hệ thống chính
trị, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ
trang thực hiện công tác dân vận tốt hơn; các hình thức tập hợp nhân dân phải
thực sự phong phú, đa dạng, khoa học, hiệu quả.
Những quan điểm chỉ đạo nói trên chính là sự vận
dụng sáng tạo tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tình hình mới, là
những giá trị bền vững của công tác dân vận; từ đó đòi hỏi phải đổi mới công
tác dân vận một cách thiết thực, sáng tạo, vừa bao phủ rộng khắp, vừa phải có
trọng tâm, trọng điểm, hướng đến mục tiêu đồng thuận, củng cố niềm tin của nhân
dân, phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không ngừng
nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, góp phần xây dựng Đảng, xây
dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh.
Tại Đại hội XII của Đảng, Báo cáo chính trị với
chủ đề “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh
toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc
đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn
đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, trên cơ sở tổng kết toàn diện 30 năm đổi mới
đã thẳng thắn chỉ rõ: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
chưa được phát huy đầy đủ; kỷ cương, kỷ luật chưa nghiêm” và bổ sung, nhấn mạnh những nội dung trọng tâm
để nâng cao hiệu quả công tác dân vận trong tình hình mới. Từ đó, củng cố vững
chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tạo sinh lực mới cho khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; tập hợp,
vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp
luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo thành phong trào
cách mạng rộng lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta nhấn mạnh, cần
tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận trong điều
kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tích cực, chủ
động hội nhập quốc tế. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự tin dân, trọng
dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân; giải
quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, những kiến nghị chính đáng của nhân
dân và khiếu nại, tố cáo của công dân; đồng thời, tiếp tục thể chế hóa, cụ thể
hóa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, nhất là nội dung nhân dân làm chủ và phương
châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các
khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của
dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình
thực hiện. Tăng cường và đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân
vận của các cơ quan nhà nước; thực hiện tốt quy chế công tác dân vận của hệ
thống chính trị; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm
công tác dân vận.
Giai đoạn phát triển mới của đất nước với các
nhiệm vụ lớn về đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển bền vững, hội nhập quốc
tế sâu rộng đặt ra nhiều cơ hội và thách thức đối với việc phát huy mọi nguồn
lực, mọi tiềm năng sáng tạo trong nhân dân, để tạo nên phong trào rộng lớn
trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, trình độ dân trí ngày càng cao, ý thức và vai
trò làm chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng, các phương tiện thông tin,
mạng xã hội trực tiếp tác động ngày càng đa dạng, đa chiều; các thế lực thù
địch, phần tử xấu chống phá ngày càng tinh vi, quyết liệt... đòi hỏi công tác
dân vận của Đảng phải không ngừng đổi mới, tập trung vào một số nhiệm vụ, giải
pháp chủ yếu sau:
Một là, tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành
động về công tác dân vận của các cấp ủy đảng, hệ thống chính trị, trở thành
hành động thiết thực gắn với chức năng, nhiệm vụ của
từng cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị; phát huy vai trò của
nhân dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Đẩy mạnh công
tác tuyên truyền, sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng, mạng
xã hội... Đổi mới công tác dân vận theo hướng thiết thực, sáng tạo, hướng đến
mục tiêu đồng thuận, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, phát
huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hai là, tập trung làm tốt công tác dân vận của các cơ
quan nhà nước các cấp theo Kết luận số 114-KL/TW, ngày 14-7-2015, của Ban Bí
thư và Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 16-5-2016, của Thủ tướng Chính phủ,
trọng tâm là: Nâng cao chất lượng, phát huy vai trò, sự tham gia của nhân dân
trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước trên cơ sở bảo đảm hài hoà lợi ích giữa Nhà nước,
doanh nghiệp và nhân dân, giữa các vùng, miền, quan tâm đến các đối tượng yếu
thế trong xã hội; khắc phục tính hình thức trong hoạt động tiếp xúc cử tri,
hoạt động giám sát, tiếp dân, đối thoại, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị của nhân dân. Thực hiện quy định về đạo đức công vụ kết hợp với tăng cường
công tác thanh tra, kiểm tra; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp
gắn với nâng cao ý thức phục vụ nhân dân; phát huy vai trò gương mẫu của đội
ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, đội ngũ
cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang trực tiếp giao tiếp với nhân
dân.
Ba là, thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở với
các loại hình theo Chỉ thị số 30-CT/TW và Kết luận số 120-KL/TW của Bộ Chính
trị(13); nghiên cứu khả năng xây dựng, ban hành Luật về Thực hành
dân chủ cơ sở. Tăng cường đối thoại, tiếp xúc với nhân dân, bám sát cơ sở, lắng
nghe tâm tư, kịp thời giải quyết nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân;
sớm khắc phục tình trạng chậm hoặc không nắm được tình hình, diễn biến tâm lý,
tư tưởng của nhân dân. Tập trung xử lý khẩn trương, dứt điểm, kịp thời các vấn
đề bức xúc liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân, các vụ khiếu kiện
đông người, vượt cấp, kéo dài, tránh để hình thành và lan rộng các “điểm nóng”
về an ninh, trật tự xã hội.
Bốn là, phát huy vai trò tích cực trong đổi mới nội
dung, phương thức hoạt động và tổ chức của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính
trị - xã hội; các hội quần chúng theo hướng có trọng tâm, thực chất, hiệu quả
hơn; hoàn thiện cơ chế để nâng cao hiệu quả giám sát và phản biện xã hội của
nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội. Quan tâm
lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng và có cơ chế, chính sách động viên đội ngũ cán bộ
làm công tác mặt trận, dân vận, đoàn thể; kiên quyết không bố trí cán bộ thiếu
gương mẫu, đạo đức kém, vi phạm kỷ luật làm công tác dân vận.
Năm là, thực hiện nghiêm túc và nhất quán nguyên tắc tự
nguyện, tự quản, tự bảo đảm kinh phí hoạt động và tuân thủ pháp luật; Nhà nước
chỉ cấp kinh phí để thực hiện những nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước giao đối với
tổ chức và hoạt động của các hội quần chúng. Đẩy mạnh các phong trào thi đua
yêu nước, thực hiện tốt phong trào thi đua “Dân vận khéo”, tích cực tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng
các mô hình, điển hình về công tác dân vận. Đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công
tác phòng, chống tham nhũng theo tinh thần các nghị quyết các hội nghị
Trung ương 4, 6, 7 khóa XII và các văn bản của Đảng có liên quan; nâng cao vai
trò trách nhiệm và tính gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, các
cơ quan, tổ chức; kiên quyết đấu tranh với những quan điểm, luận điệu sai trái.
Tăng cường phối hợp, thực hiện Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị;
xây dựng cơ chế phối hợp giữa chính quyền, các cơ quan, tổ chức với Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; tích cực đôn đốc,
kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng về
công tác dân vận. Có thể nói, ngay từ khi hình thành, công tác dân vận đã được
dẫn đường bằng tư tưởng, lý luận đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh; mọi cán bộ,
đảng viên luôn được Bác quan tâm, rèn giũa không chỉ bằng cẩm nang nghiệp
vụ “Dân vận” mà
còn bằng cả đạo đức trong sáng, tinh thần nêu gương mẫu mực của chính Người.
Nghĩ về Bác, để thực hiện cho được tâm nguyện cuối cùng của Người là “Toàn Đảng, toàn dân ta
đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập,
dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” thì chỉ có một con đường duy nhất là phải giữ
vững được niềm tin và dựa vào nhân dân./.

0 Nhận xét