QUÂN TÌNH NGUYỆN VÀ CHUYÊN GIA QUÂN SỰ VIỆT
NAM TẠI LÀO: BIỂU TƯỢNG CỦA MỐI QUAN HỆ TRUYỀN THỐNG ĐẶC BIỆT
Trong 70 năm qua, quá trình hoạt động cũng
như những đóng góp to lớn của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại
Lào đã góp phần làm sâu sắc hơn, củng cố hơn tình đoàn kết keo sơn và mối quan
hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt Việt Nam - Lào.
Ghi nhận sự cống hiến, hy sinh và giúp đỡ
to lớn của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào, trong phát
biểu chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Đảng Lao động Việt Nam
(năm 1976), Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Cay-xỏn Phôm-vi-hản đã khẳng
định: “Trong mọi sự thành công của cách mạng Lào đều có sự đóng góp trực tiếp của
cách mạng Việt Nam. Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam có quyền tự
hào vì những đóng góp máu xương vào thắng lợi của quân và dân Lào anh em trong
suốt chặng đường dài mấy mươi năm chiến đấu và công tác trên đất nước Triệu Voi
anh hùng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trọng đại mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân
trao cho”
Năm 1945, sau một quá trình đấu tranh lâu
dài, gian khổ, Việt Nam và Lào giành lại được nền độc lập. Tuy nhiên, thực dân
Pháp đã nhanh chóng quay trở lại xâm lược Việt Nam và Lào lần thứ hai. Trước kẻ
thù có tiềm lực quân sự mạnh hơn gấp nhiều lần, ngày 16-10-1945, hai nước đã ký
“Hiệp định tương trợ Việt - Lào”. Đây là văn kiện ngoại giao chính thức đầu
tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cũng là văn kiện ngoại giao chính thức
đầu tiên của Lào, là cơ sở pháp lý để chính phủ và nhân dân hai nước Việt Nam
và Lào giúp đỡ nhau chống kẻ thù chung. Tiếp đó, ngày 30-10-1945, Việt Nam và
Lào đã ký “Hiệp định thành lập liên quân Lào - Việt”, xác định sự hợp tác về mọi
mặt, đặc biệt là về lĩnh vực quân sự.
Trên cơ sở pháp lý của những hiệp định đã
được ký kết, trong những năm 1945 - 1947, Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa quyết định xây dựng và phát triển các đơn vị Việt kiều giải
phóng quân
Ngay từ đầu, các đơn vị Việt kiều giải
phóng quân đã gắn bó chặt chẽ với các đơn vị vũ trang yêu nước của Lào trong
xây dựng và chiến đấu, thậm chí cùng sinh hoạt trong một đơn vị, trở thành những
đơn vị liên quân Việt Nam - Lào phối hợp với một số đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội
địa phương của Khu 4 (Việt Nam) sang chiến đấu, ngăn chặn các cuộc tiến công của
quân Pháp, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ và cuộc sống của nhân dân Lào,
của Việt kiều ở các thành phố, thị trấn vừa được giải phóngtạo điều kiện cho
cách mạng Lào vượt qua khó khăn, tiến lên xây dựng, phát triển lực lượng, đẩy mạnh
kháng chiến, kiến quốc.
Từ những đơn vị hoạt động phân tán với quy
mô nhỏ (tổ, đội), đến những năm 1948 - 1949, bộ đội Việt Nam tại Lào từng bước
phát triển, tổ chức thành những đơn vị độc lập với quy mô đại đội, tiểu đoàn và
trung đoàn. Trước sự phát triển mạnh mẽ của các lực lượng quân sự Việt Nam giúp
Lào, ngày 30-10-1949 Thường vụ Trung ương Đảng đã họp và quyết định: “Từ đây,
các lực lượng quân đội Việt Nam hoạt động ở Lào tổ chức theo hệ thống riêng của
quân đội Việt Nam và mang danh nghĩa là quân tình nguyện”. Đây là quyết định có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi từ đây, quân tình nguyện Việt Nam có sự lãnh đạo,
chỉ đạo thống nhất và trực tiếp, khiến việc giúp cách mạng Lào ngày càng hiệu
quả hơn. Thực chất nội dung của việc giúp cách mạng Lào như Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã khẳng định: “Sự thật thì chưa tìm ra chữ gì để thay chữ giúp, thực ra
không phải là giúp mà là làm một nhiệm vụ quốc tế”.
Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng
và lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời kỳ này các đoàn quân tình nguyện
lần lượt được thành lập sang giúp cách mạng Lào đẩy mạnh kháng chiến, tổ chức
và xây dựng lực lượng vũ trang. Kết quả là ngày 20-1-1949, quân đội Lào
Ít-xa-la ra đời, đánh dấu bước trưởng thành mới của cách mạng Lào.
Năm 1950, sau thắng lợi của Chiến dịch
Biên giới, cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào đẩy mạnh phối hợp chiến đấu, tổ
chức nhiều trận đánh, nhiều chiến dịch lớn tạo bước ngoặt cho cuộc kháng chiến,
nổi bật là Chiến dịch Thượng Lào năm 1953, mở màn vào ngày 8-4-1953 và kết thúc
vào ngày 3-5-1953.
Phát huy kết quả đạt được, trong chiến cuộc
Đông Xuân 1953 - 1954, lực lượng vũ trang Việt Nam - Lào tiếp tục phối hợp mở
các chiến dịch tiến công giành thắng lợi ở Trung Lào (tháng 11-1953), Thượng
Lào lần thứ hai (tháng 2-1954) và Hạ Lào (tháng 4-1954), tạo điều kiện thuận lợi
cho nhân dân Việt Nam tiến lên tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Quân đội
và nhân dân Lào tiếp tục thực hiện sự phối hợp, đẩy mạnh hoạt động quân sự ở khắp
nơi, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch và đến ngày 21-7-1954, Hiệp định
Giơ-ne-vơ được ký kết, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân hai nước Việt
Nam và Lào kết thúc thắng lợi.
Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt
Nam sát cánh cùng quân đội và nhân dân Lào chống Mỹ
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, các đơn vị tình
nguyện Việt Nam tại Lào lần lượt rút về nước. Song, đế quốc Mỹ đã nhanh chóng
thế chân thực dân Pháp, xâm lược Việt Nam và Lào bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới.
Phát huy truyền thống đoàn kết chiến đấu giữa hai quân đội trong cuộc kháng chiến
chống Pháp, theo đề nghị của Chính phủ kháng chiến và Bộ Quốc phòng Lào, Đoàn cố
vấn quân sự Việt Nam, mang phiên hiệu Đoàn 100 đã được thành lập vào tháng
7-1954. Trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, Đoàn cố vấn quân sự 100 đã vận
dụng những kinh nghiệm của Việt Nam vào thực tiễn cách mạng Lào, giúp xây dựng,
củng cố lực lượng; rèn luyện, xây dựng khu căn cứ và công tác hậu cần trong
quân đội Lào. Đặc biệt, công tác xây dựng Đảng trong lực lượng vũ trang Lào
ngay từ đầu đã được Đoàn cố vấn quân sự 100 chú trọng, qua đó hình thành hệ thống
lãnh đạo của Đảng trong quân đội Lào, giúp Lào bảo vệ thành quả cách mạng trong
những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Từ năm 1959, đế quốc Mỹ tiến hành chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt” ở Lào. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân
Lào đứng trước nhiều thử thách. Trước diễn biến mới của tình hình cách mạng
Lào, ngày 2-7-1959, báo cáo của Bộ Chính trị về tình hình mới và nhiệm vụ trước
mắt của cách mạng Lào, trong đó xác định nhiệm vụ của Đảng và nhân dân Việt Nam
đối với cách mạng Lào lúc này là: “Tích cực ủng hộ cách mạng Lào phải được coi
là một nhiệm vụ quốc tế hết sức quan trọng của Đảng và nhân dân ta…, là một
công tác có ý nghĩa trọng đại đối với sự nghiệp củng cố miền Bắc và đấu tranh
thống nhất nước nhà”. Trên tinh thần đó, ngày 6-7-1959, Ban Chấp hành Trung
ương Đảng Lao động Việt Nam thành lập Ban Công tác Lào, do Đại tướng Võ Nguyên
Giáp làm Trưởng ban. Sau quyết định này, ngày 12-9-1959, Đoàn chuyên gia quân sự
959 được thành lập và sang hoạt động tại Lào. Đây là những quyết định quan trọng,
thể hiện tầm nhìn chiến lược và sự sáng tạo trong lãnh đạo các lực lượng Quân đội
nhân dân Việt Nam giúp Lào kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Mặc dù các đoàn quân tình nguyện và chuyên
gia quân sự Việt Nam với chức năng, nhiệm vụ khác nhau, hoạt động trên các địa
bàn khác nhau tại Lào, nhưng đều chung mục
đích là giúp Bạn trưởng thành, từng bước đảm nhận được nhiệm vụ của cách mạng.
Trong quá trình giúp Lào, các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt
Nam đều bắt đầu từ đề xuất, kiến nghị những vấn đề quan trọng, giúp Bạn xem
xét, đề ra chủ trương, chính sách lãnh đạo kháng chiến, xây dựng và chiến đấu của
quân đội; bám sát các nghị quyết của Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Bộ Quốc
phòng Lào tổ chức triển khai xây dựng lực lượng, đề xuất phương án tác chiến,
phối hợp chiến đấu hiệu quả, đặc biệt là trong các chiến dịch lớn, như: Nậm Thà
(năm 1962), 128, 74A (năm 1964), Nậm Bạc (năm 1968), Mường Xủi (năm 1969), Đường
9 - Nam Lào (năm 1971), Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng (năm 1972)..., tạo bước
tiến lớn trong công cuộc kháng chiến của cách mạng Lào và tác động tích cực trở
lại đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Sau những
thất bại liên tiếp, ngày 27-1-1973, đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pa-ri. Một
tháng sau, ngày 21-2-1973, đế quốc Mỹ tiếp tục phải ký Hiệp định Viêng Chăn về
Lào. Đến đây, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân hai nước Việt
Nam và Lào bước sang giai đoạn mới.
Tháng 12-1973, tại cuộc hội đàm giữa các
đoàn đại biểu cấp cao của Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng
Lào, hai bên thống nhất đưa các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam đứng chân ở
tuyến sau, giúp bảo vệ, giữ vững vùng giải phóng, hỗ trợ cho bộ đội giải phóng
Lào chiến đấu ở phía trước. Cùng với đó là việc rút phần lớn chuyên gia quân sự
Việt Nam về nước. Theo đó, trong những năm cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước (1973 - 1975), dù quân số không đông, nhưng đội ngũ chuyên gia quân sự đã
tập trung giúp cách mạng Lào những vấn đề cơ bản, then chốt nhất, đặc biệt là
giúp cách mạng Lào đấu tranh giành chính quyền bằng “ba đòn chiến lược” và “mũi
đấu tranh pháp lý”, tiến lên kết thúc cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở
Lào, dẫn tới sự ra đời của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào vào ngày
2-12-1975.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, vận dụng sáng tạo đường lối, nguyên tắc đoàn kết
quốc tế của Đảng cũng như phương châm chiến lược “giúp bạn là mình tự giúp
mình” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt là chấp hành nghiêm sự lãnh đạo, chỉ đạo
của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, quân tình
nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào đã tích cực hoạt động giúp cách mạng
Lào đẩy mạnh kháng chiến, kiến quốc, giành được nhiều chiến công vang dội, hoàn
thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Lào. Với những thành quả đạt được,
quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
mà Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam giao phó, trở thành biểu tượng
sinh động của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào và là tài sản vô giá của hai
dân tộc Việt Nam và Lào.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quốc tế
tại Lào, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã để lại nhiều tình cảm
tốt đẹp đối với nước bạn Lào. Như đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon trên cương vị Bộ
trưởng Bộ Quốc phòng Lào khẳng định: “Ngay từ đầu, Quân đội nhân dân Việt Nam
đã thấm nhuần tinh thần quốc tế vô sản cao cả, mấy chục năm ròng in dấu chân
trên khắp mọi chiến trường ở đất nước Lào, đem máu xương, công sức và kinh nghiệm
của mình giúp Lào xây dựng lực lượng chiến đấu và chiến thắng. Nhân dân Lào sẽ
không bao giờ quên hình ảnh các chiến sĩ quốc tế Việt Nam vượt qua sự vây chặn
dày đặc của quân thù đến với Lào khi cách mạng Lào hãy còn trong trứng nước, chịu
đựng đói rét bệnh tật, âm thầm len lỏi đi sâu vào quần chúng giúp Lào xây dựng
cơ sở chính trị, phát triển lực lượng vũ trang… Trong những năm kháng chiến, mặc
dù đất nước vẫn còn đang bị quân thù tàn phá, nhưng quân đội nhân dân Việt Nam
vẫn chia sẻ sức người, sức của có hạn của mình, cùng nhân dân, quân đội Lào chiến
đấu, ngày đêm giành giật với địch từng ngọn đồi, từng con suối, đánh bại các
chiến lược chiến tranh của địch, bảo vệ và mở rộng vùng giải phóng của cách mạng
Lào… Từ rừng núi đến đồng bằng, từng vùng giải phóng đến vùng địch hậu, biết
bao chiến sĩ quốc tế Việt Nam đã đem xương máu của mình hòa với xương máu chiến
sĩ và nhân dân Lào, trở thành những người con bất tử của dân tộc Lào, làm rạng
rỡ thêm non sông của đất nước Lào thân yêu”.
Đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản trên cương vị
Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào nhấn mạnh, cán bộ, chiến sĩ quân tình
nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam là “những chiến sĩ quốc tế đặc biệt… đã
nêu cao tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, yêu nhân dân Lào như bố mẹ, anh em
ruột thịt của mình, đã đồng cam cộng khổ, “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”,
nhận khó khăn về mình, dành thuận lợi cho chúng tôi, kề vai sát cánh chiến đấu,
sống chết bên nhau với quân đội quân dân chúng tôi trong từng chiến hào, trên
khắp chiến trường cả nước với tinh thần anh dũng tuyệt vời”.
Thực tiễn hoạt động của quân tình nguyện
và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong 30 năm chiến tranh giải phóng đã để
lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu:
Một là, luôn quán triệt sâu sắc chủ
trương, đường lối đoàn kết quốc tế của Đảng và phương châm chiến lược “giúp bạn
là mình tự giúp mình” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình hoạt động tại
Lào.
Hai là, bám sát tình hình thực tiễn để xây
dựng, phát triển quân tình nguyện và chuyên gia quân sự phù hợp với yêu cầu của
cách mạng Lào.
Ba là, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ
của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
quốc tế để xây dựng liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào ngày càng bền chặt.
Bốn là, không ngừng tìm hiểu tình hình đất
nước, con người Lào, cũng như chủ trương, đường lối của Đảng Nhân dân cách mạng
Lào để giúp cách mạng Lào thiết thực, hiệu quả.
Năm là, chú trọng bồi dưỡng, nâng cao
trình độ mọi mặt của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đáp ứng
yêu cầu, nhiệm vụ giúp cách mạng Lào.
Tình hình quốc tế và khu vực luôn có những
diễn biến phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch luôn đẩy mạnh các hoạt động
chống phá Việt Nam về mọi mặt, nhất là xuyên tạc, bóp méo tình đoàn kết và liên
minh chiến đấu đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước, quân đội và nhân dân hai
nước Việt Nam và Lào trong những năm tháng kháng chiến gian khổ, trong đó có sự
hoạt động của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào. Do đó,
hơn lúc nào hết, bên cạnh phát huy truyền thống quý báu và sức mạnh tổng hợp của
hai nước, việc vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm lịch sử, đặc biệt là kinh
nghiệm từ quá trình hoạt động của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt
Nam tại Lào có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tiếp tục xây dựng, củng cố
vững chắc tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa nhân dân hai nước. Đó cũng là
hành động thiết thực chào mừng kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống quân tình nguyện
và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào (30-10-1949 - 30-10-2019), qua đó nhân
lên niềm tự hào cho các thế hệ người dân Việt Nam và Lào, nhất là thế hệ trẻ, để
tiếp tục bồi tụ, vun đắp mối quan hệ đặc biệt lên một tầm cao mới, xứng đáng với
những cống hiến, hy sinh của biết bao thế hệ cha anh đã ngã xuống vì nền độc lập,
tự do của hai dân tộc Việt Nam và Lào.
0 Nhận xét